Ông ngoại khóc lóc: “Các người ngay trước mặt hổ con, lột da, tróc gân mẹ chúng như vậy, không sợ chịu báo ứng sao?”
Dân làng cười ồ, còn đá vào cái lồng sắt một cú: “Báo ứng gì chứ? Làng này người đông thế, đến một thì giết một, đến hai thì giết cả đôi! Sợ cái quái gì báo ứng!”
Trưởng làng nhìn hai con hổ con, mắt lấp lánh: “Hai con này đưa ra khỏi núi bán được giá lắm! Lần này chắc giàu to rồi!”
Hổ con cố gắng đập lồng để thoát ra.
Một con nhỏ hơn, đầu bị kẹt ở khe lồng, trông như sắp nghẹt thở.
Tôi hoảng quá, chạy tới đẩy đầu hổ con trượt trở lại vào trong.
Ông ngoại bỗng kéo tôi lại: “Đừng động vào chúng! Dính phải mùi chương nhân, sẽ mang họa vào thân!”
Lại một trận cười mỉa mai từ dân làng.
4
Ông ngoại kéo tôi ra một bên.
Ở cổng làng, trưởng làng bày ra một cái bàn dài, nấu một nồi thịt hổ to, mùi thơm bay xa, cả làng kéo tới đông như trẩy hội.
Trưởng làng rạng rỡ công bố: “Hôm nay cả làng ta mở tiệc! Ăn thịt hổ, bổ sinh lực! Từ nay làng mình đông người, phú quý kéo tới!”
“Bắt đầu ăn!”
“Của quý của hổ để cho tao!”
Đám đông vỗ tay hò reo, ai cũng tranh nhau múc thịt, uống canh, ăn đến môi mỡ tràn ra.
Trương Hữu Phú bê một bát canh nóng tiến tới, cười nói: “Biết điều lắm, bát canh này thưởng cho ông!”
Ông ngoại một tay đẩy ra, thở dài liên hồi: “Ác nghiệp quá!”
Ngay lúc đó, một con hổ con không biết làm thế nào đã đẩy bật được cửa lồng, bỗng nhảy vọt ra ngoài, làm dân làng chạy tránh té tát.
Con hổ con lao tới cắn chặt cánh tay Trương Hữu Phú.
Trương Hữu Phú thét lên một tiếng đau đớn, rút con dao lọc xương ở hông định chém.
Trưởng làng phản ứng kịp, đá một cú vào bụng hổ con.
Hổ con đập đầu vào đá, bất động.
Hành động ấy khiến dân làng vỗ tay tán dương.
Trưởng làng cười, hất tay xua, nhìn con hổ con, nói sắc như lưỡi dao: “Mẹ kiếp, nó đã nếm máu người rồi, không thể để sống!”
“Bỏ nó vào nồi cho tôi!”
Ông ngoại dùng hết sức lao tới, nhưng vẫn muộn mất rồi.
Hai người trong làng bắt con hổ con, ném thẳng vào nồi nước sôi đang sủi bọt!
Con hổ con kêu thảm thiết, lăn trong nồi, lát sau im bặt.
Con hổ con còn lại tru lên ngất ngưởng, đập lồng như điên.
Ông ngoại chạy tới bên nồi sắt, định liều tay vớt hổ con.
Tôi cũng chạy lên, nhưng bị trưởng làng một tay đẩy ra: “Thằng nhãi, tránh ra!”
Ông ngoại bị đá ngã ra ngoài. Ông bò dậy ôm lấy tôi, không cho tôi lại gần cái nồi.
Tôi cảm nhận toàn thân ông ngoại run rẩy.
Miệng ông ngoại lặp đi lặp lại: “Ác nghiệp quá, ác nghiệp quá! Các người rồi sẽ... rồi sẽ...”
5
Dân làng đuổi hai ông cháu tôi đi.
Sau lưng họ còn xì xào bàn tán, nói ông ngoại tôi đầu óc có vấn đề, thịt hổ quý như thế mà không ăn, lại đi thương hại một con súc sinh.
Còn chửi cả tôi là “thằng súc sinh con”!
Đêm hôm đó, cả làng ồn ào như tết, tiếng cười nói vang khắp nơi.
Chỉ có tôi và ông ngoại trốn trong nhà.
Sắc mặt ông ngoại âm trầm đến đáng sợ.
Ông đóng kín hết cửa sổ, lại lấy bàn ghế chặn chặt cửa, như thể sợ thứ gì đó sẽ xông vào.
Tôi hỏi: “Ông ngoại, thật sự có chương nhân sao? Họ... thật sự sẽ đến báo thù à?”
Ông ngoại gật đầu, rồi lại lắc đầu:
“Chúng nó là tự tìm đường chết. Chương nhân không phải đến để báo thù... mà là để tàn sát cả làng.”
Nửa đêm, tôi mơ thấy ác mộng.
Trong mơ, tôi thấy những người mang đầu hổ, tay cầm đao, gặp ai cũng chém.
Đầu của trưởng làng lăn lông lốc trên đất, máu phun tung tóe.
Cả làng biến thành địa ngục.
Tôi hét toáng lên, choàng tỉnh dậy, toàn thân ướt đẫm mồ hôi lạnh.
Ông ngoại vẫn chưa ngủ, đang ngồi bên giường, tay cầm con dao săn, ánh lửa hắt lên khuôn mặt ông, khói trong phòng nồng nặc đến khó thở.
Tôi thấy ông kéo áo lau trán, người ướt đẫm. Mùi khói hôm nay khác hẳn mọi khi có mùi khét hôi tanh lạ lùng.
Thấy tôi tỉnh, ông ngoại quay lại, lấy tay bịt miệng tôi:
“Đừng sợ, có ông ngoại ở đây.”
Nhưng giọng ông run còn hơn tôi.
Tôi chạm vào áo ông, lạnh ngắt, ẩm ướt, ông cũng đang sợ, chỉ là cố gắng tỏ ra vững vàng để trấn an tôi.
Lúc đó, tôi nghe thấy ngoài sân có tiếng rên rỉ khe khẽ.
Là tiếng của Đại Hoàng.
Đại Hoàng là con chó săn, mỗi lần ông ngoại vào núi đều mang nó theo.
Bình thường nó gan lắm, chưa bao giờ kêu như thế, giống như đang run sợ điều gì đó.
Tôi thu mình vào góc giường, nhìn ông ngoại bước về phía cửa sổ.
Ánh trăng rọi qua song, ngoài kia có một bóng người... hình như đang đứng nhìn vào trong nhà.
Ông ngoại rụt lại một bước, tim tôi như ngừng đập.
May mà bóng người đó chỉ nhìn chằm chằm một lúc rồi quay đi.
Ngay sau đó, bên ngoài vang lên tiếng bước chân nặng nề từng nhịp, từng nhịp, dội vào lòng đất.
Đêm ấy, tôi không dám chợp mắt nữa.
6
Sáng hôm sau.
Khi ông ngoại mở cửa, tôi vội đi theo ra ngoài.
Trước nhà đồ tể Trương tụ tập rất đông người.
“Có người chết rồi!”
“Chết người thật rồi!”
Đám đông mặt mũi thất sắc, có người còn cúi gập người nôn mửa, tiếng bàn tán hỗn loạn vang khắp sân.
Tôi chen vào xem.
Trương Hữu Phú chết rồi!
Gã chết trong cái chum nước lớn ở nhà mình.
Đáng sợ hơn là... cái chum cao hơn cả người lại bị đặt lên bếp lò.
Dưới chum, củi vẫn đang cháy rừng rực loại gỗ chuyên dùng để nấu thịt.
Thân thể Trương Hữu Phú đã nát bấy.
Da thịt dính chặt vào chum, mặt mũi nhão nhoẹt, không còn nhận ra đâu là mũi, đâu là mắt.
Một người trong làng dùng cây gậy chọc thử, thân xác gã mềm oặt, gần như tan ra.
Trong nhà nồng nặc mùi thịt chín, ngửi thôi đã buồn nôn.
Mặt ông ngoại tối sầm lại, ông nắm chặt cổ tay tôi đến đau điếng.
Tôi biết, ông ngoại cũng đang rất sợ.
Cái “bóng người” tối qua ngoài cửa sổ... e rằng vốn chẳng phải là người.
Người trong làng bắt đầu hô hào mời đạo sĩ đến trừ tà.
Mấy người đàn bà sợ đến tái nhợt mặt, gào lên bắt chồng nhanh thu dọn đồ đạc, rời khỏi núi tránh nạn.
Ai nấy đều thấy cái chết của Trương Hữu Phú quá kỳ quái.
Trưởng làng cũng hoảng loạn.
Ông ta mặt trắng bệch, run rẩy rút bao thuốc lá khô ra châm, nhưng bật lửa mấy lần vẫn không cháy.
Ông ta bực dọc quát:
“Còn đứng đực ra làm gì! Mau vớt người lên đi!”
Vớt.
Đúng vậy, chỉ có thể “vớt” thôi.
Chạm vào là tan, còn nhão hơn cả thịt hổ hôm qua!
Trưởng làng lại quay sang hô to:
“Lý Tứ, Vương Ngũ! Hai người có ngựa, mau cưỡi xuống thành báo quan đi!”
Lý Tứ và Vương Ngũ liếc nhau, không nói lời nào, quay đầu chạy thẳng về nhà.
Chẳng mấy chốc, tiếng vó ngựa dội xa khỏi làng.
Trưởng làng chắp tay sau lưng, đi qua đi lại trong sân, nhíu mày nhìn thi thể Trương Hữu Phú, rồi lại liếc sang ông ngoại tôi, như muốn nói gì đó nhưng ngập ngừng.
Ông ngoại kéo tôi rời khỏi đám đông.
Tôi sợ đến mềm cả chân, phải để ông ngoại cõng lên lưng.
Vừa đi, ông ngoại vừa nhìn xuống đất, thở dài:
“Cũng may... chỉ có một con thôi.”
Lúc ấy, tôi mới nhìn thấy dưới đất, là những dấu chân lạ.
Không thể nào là dấu chân người.
Quá to, quá nặng, đến mức in sâu xuống mặt đất ẩm.
7
Chúng tôi vừa về đến nhà không lâu, trưởng làng đã ngồi không yên.
Ông ta sai người đến gọi ông ngoại tôi, bảo rằng cả làng phải tập trung ở từ đường để bàn cách đối phó.
Giờ mới nhớ tới ông ngoại tôi à?
Uy phong hôm qua đâu hết rồi?
Ông ngoại dắt tôi đến từ đường.
Trưởng làng đang cố trấn an mọi người:
“Các nhà phải cẩn thận, tôi nghi là bọn thổ phỉ quấy phá. Vài hôm tới đừng ra đồng, càng không được vào núi săn bắn. Chờ quan phủ đến, chắc chắn sẽ tra rõ ngọn nguồn.”
Góa phụ Trương liếc nhìn ông ngoại, run run hỏi:
“Liệu... có phải là... loài chương nhân kia không? Nó đến báo thù rồi à?”
Trưởng làng quát:
“Ăn nói hồ đồ! Làm gì có hổ hóa thành người? Chẳng hóa ra yêu quái rồi sao?”
Lưu Bá Lại, tay sai thân tín của trưởng làng, cười nịnh bợ:
“Mọi người đừng sợ, nghe trưởng làng nói đi, đợi quan phủ tới, ắt sẽ tìm ra chân tướng. Chắc là đồ tể Trương hôm qua uống say...”
Nói đến đây, chính hắn cũng nghẹn lời.
Cái chết của Trương Hữu Phú quá quái dị, chẳng ai có thể “bịa” nổi.
Không khí trong làng nặng nề.
Nhiều người bỗng nhớ lại chuyện hôm qua, ăn thịt hổ, uống canh hổ, mặt ai nấy tái mét.
Nhìn lại nồi thịt nát nhừ trong sân, có người ôm bụng chạy ra ngoài nôn thốc nôn tháo.