logo

Chương 1

Năm 1999, tôi từng lạc vào một ngôi làng nhỏ hẻo lánh ở Quý Châu.

Tên làng tôi đã quên mất, nhưng điều khiến tôi nhớ mãi là trong làng không hề có bóng dáng một bé gái nào.

Tôi không sao hiểu nổi.

Cuối cùng, trong nhà thờ họ của làng, tôi phát hiện một cái giếng...

1.

Năm 1999, tôi còn là một phóng viên mới vào nghề.

Khi đó, để viết một bài phóng sự, tôi đã đến một ngôi làng nhỏ ở Quý Châu.

Giao thông thời đó khó khăn hơn bây giờ nhiều, từ thành phố, tôi phải đi chuyến tàu lửa màu xanh lá hơn 30 tiếng mới tới được thị trấn gần làng.

Sau đó lại phải đi xe khách đường núi gần một ngày nữa mới tới nơi.

Xe khách chạy từng trạm một, và ngôi làng tôi cần đến chính là điểm dừng cuối cùng.

Chiều muộn, tôi mơ màng bị tài xế lay dậy.

Anh ta bảo do mấy ngày trước mưa lớn, sạt lở núi, đường đến trạm cuối bị chặn mất rồi, tôi chỉ có thể xuống ở đây.

Tôi tức lắm, hỏi sao không nói sớm.

Tài xế mặt lạnh như tiền, bảo vùng này hẻo lánh, tình hình đường xá họ cũng không rõ, chỉ khi đến nơi mới biết.

Lúc này, tôi phát hiện trên xe chỉ còn mình tôi, không biết anh ta nói thật hay giả, nhưng rõ ràng là không chịu chạy tiếp.

Anh ta thẳng thừng: hoặc tôi xuống đây, anh ta trả lại tiền một trạm, hoặc theo xe quay ngược về thị trấn.

Chuyện này giờ nghĩ lại thật vô lý, nhưng thời đó mọi thứ còn lộn xộn, nên chẳng có gì lạ.

Đang phân vân, tài xế bảo xuống đây đi bộ không xa sẽ có một ngôi làng, tôi có thể tá túc qua đêm, sáng mai đi thêm nửa ngày nữa là tới nơi.

Ở nơi đất khách, tôi đành nuốt giận xuống xe.

May là chuyện ngôi làng anh ta không nói dối.

Đi khoảng mười mấy phút, quả nhiên thấy phía trước có con đường làng uốn lượn trong thung lũng.

Đầu đường làng có một cổng đá cũ kỹ, khắc chữ "Trường Xuân" hay gì đó, có lẽ là tên làng.

Phía sau cổng không xa, lác đác những ngôi nhà lớn nhỏ.

Tôi mừng lắm vì trước khi mặt trời lặn đã tìm được chỗ nghỉ chân.

Thế là tôi rảo bước vào làng.

Không lâu sau, tôi gặp một người dân trông hiền lành chất phác.

Tôi vội chào hỏi, giới thiệu mình là phóng viên từ thành phố, hỏi thăm ngôi làng mình cần đến có gần đây không.

Nghe xong, anh ta rất nhiệt tình.

Giống như lời tài xế, anh bảo ngôi làng tôi cần đến chỉ cách một ngọn núi, đi nhanh thì nửa ngày là tới.

Tôi thở phào nhẹ nhõm, hỏi trong làng có nhà trọ nào không.

Anh ta cười sang sảng: “Chỗ quê mùa làm gì có quán trọ, nếu không chê thì về nhà tôi ở tạm.”

Tôi cũng chẳng khách khí nhiều, theo về nhà anh ta.

2.

Nhà anh ta gần cổng làng, một gia đình năm người điển hình: hai cụ già, vợ anh ta và một cậu con trai khoảng năm, sáu tuổi.

Vừa dẫn tôi về, anh ta đã giới thiệu với cả nhà là có khách quý từ thành phố, khiến tôi ngượng chín mặt.

Sau khi mọi người chào hỏi xong, anh ta bảo mẹ và vợ đi chuẩn bị bữa tối.

Lúc này, tôi phát hiện một điều kỳ lạ: cả mẹ và vợ anh ta đều như bị câm, không nói được.

Nhưng chuyện này tôi không tiện hỏi thẳng.

Tôi định đưa tiền trả công ăn ở, nhưng anh ta kiên quyết từ chối.

Anh bảo nếu nhắc đến tiền nữa là coi thường dân núi.

Thế là tôi lấy ra một cây bút mới mua, tặng cho con trai anh ta.

Thời đó, đây là món quà khá tốt cho trẻ nhỏ, cậu bé từ chối mấy lần, nhưng trước thái độ kiên quyết của tôi, cuối cùng cũng vui vẻ nhận.

Trời tối hẳn, không lâu sau, nhà anh ta đã dọn lên một mâm rượu thịt.

Thức ăn không nhiều, chủ yếu là nấm rừng, rau dại, thêm một nồi canh gà rừng, nhưng đều tươi ngon.

Vợ và mẹ anh ta dọn xong đồ ăn, tự động vào phòng.

Tôi ngạc nhiên, hỏi sao họ không ra ăn?

Anh ta bình thản đáp: "Đàn bà con gái lên bàn làm gì. Phóng viên Đào, anh cứ ăn đi, làng chúng tôi hẻo lánh, đồ đạc ít ỏi, đừng chê."

Tôi vội nói vài câu xã giao, nhưng trong lòng thoáng giật mình.

Thời đó, trọng nam khinh nữ không hiếm, nhưng thẳng thừng không cho phụ nữ lên bàn, có quá đáng quá không?

Nhưng đang ở nhà người ta, tôi cũng không tiện nói nhiều.

Anh ta không để ý tới biểu cảm của tôi, còn lấy ra một bình rượu, bảo là tự ủ, nhất quyết mời tôi nếm thử.

Không cưỡng lại lòng tốt, tôi uống vài chén.

Rượu ngon thật, đậm đà, nhưng hậu vị rất mạnh, chẳng mấy chốc tôi đã say mềm.