Ông nội gầm lên: “Nếu các người còn muốn sống, lập tức chuẩn bị ba con vật hiến tế, năm loại quả, mang theo tiền đồng với phấn son, lên miếu Thổ Địa dập đầu tạ tội với vua núi ngay!”
“Điên rồi hả! Xin lỗi một con thú hoang? Ông trưởng thôn, ông khùng rồi à?”
Ông bầu thấy khó chịu, cãi nhau kịch liệt với ông nội, càng lúc càng to tiếng.
Cuối cùng, thấy họ cứng đầu không chịu nghe, ông nội đành bỏ cuộc.
Trước khi đi, ông nội ném lại một câu nặng nề:
“Vân Cô đưa mặt da cho Bảo Hương cháu gái tôi. Tôi nói trước, nếu Bảo Hương có mệnh hệ gì, thì đừng hòng một ai trong các người chạy thoát!”
3
Trên đường về, ông nội thở dài liên tục.
“Chuyện đến nước này, cũng chẳng còn cách nào khác. Giờ ông ra đầu làng gọi điện cho ba con, để nó đón con về thành phố.”
Ông nội dẫn tôi ra cửa hàng tạp hóa ở đầu làng, rồi lại ghé thêm mấy nhà nữa, nói vài lời cầu khẩn, chủ yếu là nhờ người ta cùng góp lễ vật để tạ tội với Vua Núi.
Đến chiều, trong nhà đã có năm sáu gã trai tráng khỏe mạnh tới, khoác áo mưa vải bạt, tay xách những hộp đồ cúng.
Thấy người đã đủ, ông nội mới dắt từ sân sau ra hai con dê.
Trước khi đi, ông nội đội nón lá, khoác áo tơi, sau lưng cắm một con dao săn, bên hông buộc thêm một xâu tiền đồng cổ.
Có lẽ ông nội không muốn làm căng thêm với gánh hát, nên chẳng đến tìm họ, mà định tự mình vào núi để tạ lỗi.
“Mẹ, mẹ phải trông chừng Bảo Hương cho kỹ đấy!” - Ông nội nói vọng vào trong nhà.
Cụ cố tôi lom khom bước ra, tay run rẩy cầm theo hai thứ.
Một hộp phấn son đã bạc màu, và một cái tay nải lớn, bên trong là một bộ y phục tuồng cũ kỹ.
Đó là những món bà thường dùng khi hát tuồng ở nhà.
“Con mang cái này cho nó, nó sẽ thích. Dù việc thành hay không, cũng đừng dùng vũ lực. Vào núi thì phải có lòng kính sợ.”
“Dạ.”
Ông nội gật đầu nhận lấy, rồi gọi mọi người sớm đi lên núi.
Trước khi rời đi, ông nội còn quay đầu dặn tôi thêm một câu:
“Bảo Hương ngoan, giờ trong làng rất nguy hiểm, con phải ở yên trong nhà, tuyệt đối đừng chạy lung tung!”
4
Đêm xuân, mưa rơi tí tách.
Không biết đã ngủ bao lâu, tôi giật mình tỉnh dậy vì một cơn ác mộng.
Trong mơ, Hạ Hầu Uyên ngồi bên giường tôi hát đoạn Định Quân Sơn.
Một tràng “oa da da da da”, chiếc mặt nạ bỗng tuột xuống, để lộ gương mặt khỉ đầy máu me lộn xộn, vết thương lòi cả xương.
Tôi hoảng hồn bật dậy.
Ngoài cửa sổ, mưa gõ lên tàu chuối, trong nhà thì cụ cố đang ngáy khò khò.
Tôi trằn trọc không sao ngủ lại được, trong đầu cứ ám ảnh khuôn mặt khỉ nát bấy kia.
Tôi xoay người, mặt hướng ra cửa sổ, chợt thấy có bóng người đi ngang qua.
Hình như là ông nội về rồi.
“Cộp!”
“Cộp! Cộp!”
“Cộp cộp cộp!”
Ngoài gian chính vang lên một tràng gõ cửa trầm đục.
Tối nay cụ cố đã cẩn thận cài then cửa lớn, nên ông nội không vào được.
Tôi rón rén ra khỏi phòng, tháo then cửa.
Bên ngoài tối om, chẳng thấy ai, chỉ có gió tạt mưa bay thốc vào trong.
Tôi thò đầu ra, phát hiện cây dù giấy dầu thường ngày cụ cố vẫn dùng đã biến mất.
Trên đất lại có thêm hai con gà rừng chết cứng, ông nội biết tôi mê nhất món gà rừng tê cay.
Dưới mái hiên, có một người khoác áo tơi, che dù, đang dần dần bước đi vào đêm mưa.
Góc dưới bên phải chiếc áo tơi sứt mất một mảnh, tôi nhận ra đó chính là áo của ông nội. Nhưng sao ông không vào nhà, mà còn đi đâu vậy?
“Ông ơi?” Tôi kìm giọng gọi khẽ.
Ông nội hình như không nghe thấy, vẫn giẫm lên bùn lầy lội, rẽ vào con ngõ sát bức tường phía tây.
Tôi quay vào khoác thêm áo ngoài, lén bám theo.
Ngõ hẹp tối om, đưa tay cũng không thấy ngón, phía trước lờ mờ vọng lại giọng nữ trong trẻo cao vút.
Ai đó đang tập giọng trong đêm mưa, nghe chất giọng thì đúng là đào hát Vân Cô.
Cuối ngõ là nhà của ông Vương, tháng trước vừa qua đời, gánh hát tạm trú trong ngôi nhà trăm tuổi ấy.
Chẳng lẽ ông nội lại tìm họ gây chuyện vì con khỉ mặt chó?
Cửa sân mới khép, phát ra tiếng kẽo kẹt chói tai, từ bên trong hắt ra ánh sáng vàng nhạt, lẫn tiếng người lao xao.
Tôi đi đến chỗ bức tường đất sập nửa bên ở hướng đông, giẫm lên chum vại mà trèo lên đỉnh tường.
Trước hiên, hoa lê trắng xóa, mưa xuân rắc hạt, Vân Cô áo trắng tóc xõa, tay áo tung bay, giọng hát ngân nga trầm bổng.
Tôi ghé sát tường, vừa nghe hát, vừa chờ ông nội.
Chẳng biết từ lúc nào, mưa đã nặng hạt, đèn trong nhà vụt tắt, đào hát cũng lui vào phòng, nhưng ông nội vẫn chưa ra.
Sợ cụ cố phát hiện tôi đã bỏ đi lâu, tôi định trèo xuống, nào ngờ thấy có một bóng người từ tường phía tây leo vào.
Hắn khoác áo tơi, che một chiếc dù giấy dầu.
Chẳng phải là ông nội sao? Sao ông lại trèo tường?
Nhờ ánh đèn hắt ra từ cửa sổ, tôi nhìn kỹ lại, chợt thấy hắn không giống ông nội.
Hình thể hắn to hơn hẳn một vòng, cánh tay dài, người hơi khom, bước đi lại nhón chân, cực kỳ quái lạ.
Hắn ngó nghiêng bốn phía, lén lút tiến về phía nhà.
Một cơn gió lớn lùa qua, làm mặt dù hất lên.
Tôi thấp thoáng thấy một mảng lông lá xù xì, tim liền thót lại!
Không lẽ… là khỉ mặt chó?!
Tôi rùng mình, suýt trượt ngã khỏi vại.
Kẻ đó như cảm nhận được tiếng động, bèn quay phắt lại, ánh mắt hướng thẳng về phía tôi đang nấp.
5
Tôi nắm chặt nắm đấm, bắp chân run bần bật.
Nó bước chậm rãi về phía tôi, miệng phát ra những tiếng “lu lu” quái dị.
Đúng lúc ấy, một tia sét xé ngang bầu trời đêm, ánh sáng trắng loá quét khắp sân!
Tôi cuối cùng cũng nhìn rõ khuôn mặt nó.
Một cái đầu khỉ, máu thịt lầy nhầy như bùn, lộ ra từng mảng xương trắng hếu, còn khủng khiếp hơn cả trong mơ!
Tôi hét toáng lên, nhảy khỏi bờ tường đất, hai chân mềm nhũn, ngã chúi ngay xuống vũng nước.
Con khỉ mặt chó ấy nhanh khủng khiếp, loáng cái đã vọt lên đầu tường.
Nó cầm ô, từ trên cao nhìn xuống tôi, nhe cái miệng to tợn, để lộ hai chiếc nanh nhọn hoắt.
Một con quỷ khỉ đầu lâu, rùng rợn đến cực điểm!
“Có khỉ mặt chó!”
Tôi vừa gào vừa lồm cồm bò dậy, nhưng mới chạy được mấy bước đã lại quỵ ngã.
Đúng lúc ấy, sấm nổ ầm trời, chó sủa vang khắp xóm, đèn trong các nhà lần lượt sáng lên.
“Ông nội ơi! Có khỉ mặt chó! Nó tới giết người rồi!” - Tôi khóc nức nở.
Cổng nhà cũ “kẽo kẹt” mở ra, ông bầu gánh hát cùng mấy người ùa ra:
“Khỉ mặt chó đâu?!”
“Ngay kia! Ngay trên tường đó!”
Tôi vừa khóc vừa chỉ.
Ông bầu đảo mắt nhìn quanh, chau mày: “Vớ vẩn, lấy đâu ra khỉ mặt chó!”
Hàng xóm kéo đến, đội trưởng sản xuất Lý Phú còn xách theo khẩu súng kíp cũ.
“Khỉ mặt chó giết người hả? Ở đâu?”
“Có cái rắm, con bé bịa đặt!” - Ông bầu lạnh giọng.
Tôi đứng ngây ra giữa bùn lầy, ngơ ngác. Rõ ràng nó vừa đứng đó, sao bỗng chốc lại biến mất rồi?
Sau một phen náo loạn, có người nghi hoặc nhìn tôi:
“Đêm hôm không ngủ, con chạy ra đây làm gì?”
Ông bầu bĩu môi: “Chẳng phải rõ rồi sao? Ông trưởng làng xúi con bé doạ chúng tôi, ép chúng tôi cúng nộp đấy!”
“Ý ông là sao?” - Lý Phú hỏi.
“Chúng tôi lột da mặt khỉ mặt chó, ông già ấy bắt tôi đi tế lễ xin tội. Hủ tục mê tín ấy, tôi đời nào chịu?”
Dân làng rít một hơi lạnh gáy, nhìn nhau không nói.